To be a winner, all you need to give is all you have

Category Archive : Thư viện Chăn nuôi

7 BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN CÁ NUÔI NƯỚC NGỌT

 Nuôi cá nước ngọt thường gặp phải một số bệnh rất khó phát hiện và xử lý, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Nếu quản lý nguồn nước và thức ăn không tốt rất dễ phát sinh dịch bệnh trên cá, dẫn đến dịch bệnh chết hàng loạt. Dưới đây là các bệnh thường gặp và cách phòng, trị trên cá nuôi nước ngọt.

1. BỆNH NẤM THỦY MI (Bệnh mốc nước)

Bệnh xảy ra ở hầu hết các loài cá nước ngọt như cá chép, cá mè, cá trắm cỏ, cá trê, cá trôi, cá bống tượng… Bệnh phát triển thuận lợi trong các ao nuôi nước tù, hàm lượng chất hữu cơ cao…

  • Tác nhân gây bệnh:  Là một số giống nấm như: Leptolegnia, Aphanomices, Sarolegnia, Achlya.
  • Dấu hiệu bệnh lý: Trên da cá lúc đầu có các vùng trắng xám, đó là các sợi nấm nhỏ mềm; sau đó nấm phát triển thành các búi trắng như bông. Cá bệnh bơi lội bất thường, thích cọ xát vào các vật thể trong nước làm tróc vẩy trầy da, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập. Ngoài ra có thể ký sinh làm ung trứng cá.
  • Phòng, trị bệnh: Thực hiện kỹ thuật tẩy dọn ao trước mỗi vụ nuôi. Nuôi cá với mật độ thích hợp, tránh tác động cơ học hoặc do ký sinh trùng làm cá bị tổn thương; duy trì và ổn định nhiệt độ trong ao bằng nhiều cách như duy trì mực nước ao 1,5m, phủ bèo tây 2/3 ,mặt ao…
  • Dùng thuốc diệt nấm cho cá. Có thể dùng một số hóa chất để trị bệnh nấm thủy mi: BRONOPOL-CÁ  1 ml/100lít nước (lặp lại điều trị sau 48 giờ) hoặc 2 ml/100lít nước tắm trong 2 giờ/ngày (thay nước hoặc chuyển bể sau 2 giờ), liên tục 3 ngày.

 2. BỆNH STREPTOCOCUS

Bệnh xảy ra ở một số loài cá nước ngọt như cá rô phi, cá chép…và một số loài cá biển như cá vược bệnh thường bùng phát  khi thời tiết ở nhiệt độ 20 – 30 độC

Tác nhân gây bệnh: do vi khuẩn Streptococcus (liên cầu khuẩn) gây ra trên tất cả các giai đoạn phát triển của cá.

Dấu hiệu bệnh lý: Màu sắc cá chuyển dần sang đen tối, bơi lội không bình thường, mắt cá lồi cà đục, xuất huyết ở các vây và xương nắp mang. Các vết xuất huyết lan rộng thành lở loét, nhưng vết loét nông hơn các loại bệnh lở lét khác. Cá bệnh bơi xoắn, không định hướng. Bệnh ở dạng cấp tính gây tỉ lệ chết cao.

Phòng, trị bệnh: Duy trì mức nước tối thiểu 1,2 m trong ao nuôi; tăng cường thay nước, quạt nước về đêm và sáng sớm nhằm cung cấp đủ hàm lượng oxy hòa tan cho cá.

Định kỳ bổ sung vitamin tổng hợp vào thức ăn liên tục trong 7 ngày; khử trùng nước bằng IODINE COMPLEX, liều lượng theo hướng dẫn.

Dùng phương pháp trộn kháng sinh vào thức ăn, như DOXY 20% CÁ Trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục  5 – 7 ngày theo liều sau: Trộn 4-5g /1-1,5kg thức ăn hay 1kg / 30-40 tấn cá.

Nếu là thức ăn nổi, hòa tan thuốc với lượng nước vừa phải, sau đó phun đều lên thức ăn, rồi áo bên ngoài bằng dầu mực.

3. BỆNH TRÙNG MỎ NEO

Bệnh gặp nhiều trên cá trắm cỏ, cá mè hoa, mè trắng, cá chép… chúng ký sinh trên da, vẩy, mang, hốc mũi, hốc mắt, miệng… Bệnh phát triển mạnh ở thời điểm cuối mùa xuân khi nhiệt độ từ 20 – 25 độ C.

 Tác nhân gây bệnh: Là trùng mỏ neo thuộc giống Leronaea.

Dấu hiệu bệnh lý: Cá bệnh bơi không bình thường, chậm chạp, kém ăn, dị hình. Trên mình cá có các vết nhỏ màu đỏ, một số kí sinh trong miệng làm miệng cá sưng lên và không đóng kín được, không ăn được.

Phòng, trị bệnh: Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp. Trước khi thả cá nên dùng lá xoan bón lót xuống ao với lượng 0,2 – 0,3 kg/m3 nước để diệt ấu trùng của trùng mỏ neo có trong ao.

Nếu có điều kiện nên thay toàn bộ nước trong ao đồng thời khử trùng nước thay.

Dùng lá xoan 0,4 – 0,5 kg/m3 nước bón vào ao nuôi cá bị bệnh có thể tiêu diệt được ký sinh trùng Lernaea. Do lá xoan phân hủy nhanh tiêu hao nhiều ôxy và thải khí độc, nhất là mùa hè nhiệt độ cao, do đó phải theo dõi cấp nước kịp thời khi thiết.

Dùng BRONOPOL Cá hương và cá giống: 1 ml/100lít nước (lặp lại điều trị sau 48 giờ) hoặc 2 ml/100lít nước tắm trong 2 giờ/ngày (thay nước hoặc chuyển bể sau 2 giờ), liên tục 3 ngày.

Trứng cá: 1 ml/100lít nước, 30 phút mỗi ngày ( từ giai đoạn trứng thụ tinh đến khi điểm mắt xuất hiện) sẽ hạn chế được sự nhiễm vi nấm , tăng tỷ lệ ấp nở..

4. HỘI CHỨNG LỞ LOÉT

Rất nhiều loài cá khác nhau bị ảnh hưởng bởi bệnh này, trong đó có một số loài có tính nhạy cảm cao với bệnh như cá quả, cá trôi, cá trê, chép… Bệnh lây lan chủ yếu theo dòng nước và sự di chuyển của cá mang mầm bệnh.

Tác nhân gây bệnh: Do nấm Alphanomyces Invadan phát triển len lỏi ăn sâu vào trong thịt cá. Ngoài ra còn có những tác nhân gây bệnh cơ hội khác như:  virut, vi khuẩn, ký sinh trùng.

Dấu hiệu bệnh lý: Cá ít ăn, bỏ ăn, hoạt động chậm chạp; trên thân cá bệnh có các vết lở loét ăn sâu gây cho cá chết đồng loạt. Tại các vết loét lớn, trung tâm vết loét có màu xám là nơi nấm phát triển, mép xung quanh có màu đen.

Phòng, trị bệnh: Đối với bệnh lở loét biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh đó là lựa chọn các loài cá có khả năng kháng bệnh cao. Ngoài ra, có các biện pháp ngăn chặn nấm vào trong ao như: Tẩy dọn ao trước mội vụ nuôi.

Trong quá trình nuôi, định kỳ 2 tuần/lần dùng COPPER pha vào nước té đều khắp mặt ao với liều lượng 2 kg/100m3 nước

Đàn cá giống trước khi thả cần tắm NaCl 2-3% trong 5-15 phút để tẩy trùng tác nhân bên ngoài; tránh các tác động cơ học làm tổn thương đến cơ thể cá.

5. BỆNH NHIỄM KHUẨN HUYẾT DO VI KHUẨN AEROMONA

Hầu hết các loài cá nuôi nước ngọt có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh này; Bệnh thường bùng phát khi cuối mùa xuân, đầu mùa hè. Cá con dễ mẫn cảm hơn cá trưởng thành, có thể gây chết đến 80%

Tác nhân gây bệnh: Do nhóm vi khuẩn thuộc giống Aeromonas: A. hydrophila, A. caviae, A. sobria.

Dấu hiệu bệnh lý: Cá bệnh bị sẫm màu từng vùng ở bụng, xuất hiện từng mảng đỏ trên cơ thể; hoại tử đuôi, vây, xuất hiện các vết thương trên lưng, vảy dễ rơi rụng; mắt lồi, mờ đục.

Phòng, trị bệnh: Tránh tạo ra các tác nhân cơ hội như nhiễm ký sinh trùng; tránh làm xây xát cá, vệ sinh đúng quy định, không mật độ quá quá dày…

Dùng thuốc tím ( KmnO4) tắm cá, liều dùng là 0,4g/100 lít nước, xử lý lập lại sau 3 ngày; định kỳ tắm cá 1 tuần, 2 tuần hoặc 1tháng/lần, tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe cá.

Dùng thuốc trộn vào thức ăn như BACTRIM FORT: 55-77 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 7-10 ngày); FLOFENICOL: 20 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 7-10 ngày;  

6. BỆNH TRÙNG QUẢ DƯA (Bệnh đốm trắng)

Bệnh thường xảy ra ở cá chép, cá mè, cá trắm cỏ, cá trê, cá trôi… Bệnh phát triển thuận lợi khi thời tiết giao mùa – cuối mùa xuân sang đầu mùa hè

Tác nhân gây bệnh: do loài trùng quả dưa Ichthyophthirius  multifiliis gây ra.

Dấu hiệu bệnh lý: khi mắc bệnh, cá bơi nổi thành từng đàn trên mặt nước, quẫy nhiều do ngứa; trên da, mang, vây của cá có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ màu trắng đục có thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Da, mang cá bị bệnh có nhiều nhợt, màu sắc nhợt nhạt. Khi quá yếu cá chỉ còn ngoi đầu lên để thở, đuôi bất động cắm đầu xuống nước.

Phòng, trị bệnh: Dùng BRONOPOL để phun xuống ao mỗi tuần 2 lần với nồng độ 150 – 200 ml/m3, sau đó thay nước.

7. BỆNH ĐỐM ĐỎ DO VI KHUẨN

Nhiều loài các khác nhau bị ảnh hưởng bởi bệnh này, trong đó có một số loài có tính nhạy cảm cao với bệnh như cá rô phi, cá trôi, cá chép…

Dấu hiệu bệnh lý: Cá kém ăn hoặc bỏ ăn, xuất hiện các đốm đỏ lở loét trên thân, vẩy rụng, cá mất nhớt, khô ráp, vây xuất huyết, rách nát cụt dần; xuất huyết từng đốm nhỏ trên da, xung quanh miệng và nắp mang, phía mặt bụng.

Phòng, trị bệnh: Dùng vaccin phòng bệnh; giảm mật độ nuôi; cung cấp nguồn nước tốt; tắm KMnO4 liều dùng là 0,4g/100 lít nước không quy định thời gian

Có thể dùng các loại kháng sinh để điều khi như trong bệnh nhiễm khuẩn huyết do Aeromonas. Trị bệnh: dùng thuốc OXY TETRACILINE 50% cá ngày liên tục, cung cấp thêm Vitamin C.

#Achaupharm #ThuocThuYAChau #7benhphobienveCa

#Doxy #Oxytetraciline  #Bronopol

THEO DÕI WEBSITE ĐỂ CẬP NHẬT NHIỀU THÔNG TIN VÔ CÙNG THÚ VỊ THEO TỪNG NGÀY NHA. ᴥᴥ

CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM TRONG MÙA MƯA LŨ

(Tiếng Việt) CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM TRONG MÙA MƯA LŨ

Sorry, this entry is only available in Vietnamese.

PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH Ở LỢN NÁI TRƯỚC VÀ SAU KHI SANH

Chăn nuôi Heo nái từ trước đến nay luôn là chủ đề được rất nhiều người quan tâm và chú trọng. Thành công của chăn nuôi heo nái quyết định rất lớn tới năng suất cũng như lợi nhuận của mỗi cơ sở chăn nuôi và nó cũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau từ con giống, kỹ thuật, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cho đến phòng và quản lý mầm bệnh… Dưới đây là một số bệnh thường gặp ở lợn nái trước và sau sinh.

BỆNH VIÊM VÚ (Mastitis)

  1. Nguyên nhân:
  • Do kế phát bệnh viêm tử cung, sót nhau sau khi sinh.
  • Do nhiễm trùng: từ môi trường vào bầu vú gây viêm; do răng heo con làm xây xát núm vú và gây nhiễm trùng.
  • Sau khi sinh hàm lượng canxi huyết mẹ quá thấp dẫn đến nái bị sốt sữa dẫn đến viêm vú.
  • Chuồng trại không đảm bảo vệ sinh tạo điều kiện cho vi trùng sinh sôi phát triển, gây bệnh.
  1. Triệu chứng:

Heo sau khi sinh 2 ngày xuất hiện những vú sưng đỏ, thường thấy đối xứng giữa 2 hàng vú, sờ vào có cảm giác nóng, ấn vào vú heo mẹ có biểu hiện đau. Nếu viêm nặng thì heo bỏ ăn, không muốn cho con bú, sốt 40,5 – 42°C, vắt sữa ở những vú viêm thấy vón cục. Vú viêm lây sang các vú khác rất nhanh. Nếu điều trị không kịp thời, heo sẽ bị mất sữa.

Trường hợp hàm lượng canxi huyết thấp sau khi sinh dẫn đến nái bị sốt sữa thì tất cả các vú đều bị viêm, sưng đỏ.

  1. Phòng bệnh:
  • Trước khi heo nái sinh phải sát trùng kỹ chuồng trại. Dùng IODINE pha loãng với nước tỷ lệ 1:25, phun thật kỹ vào nền, vách chuồng để tiêu diệt vi trùng 2 lần/tuần.
  • Tắm cho heo nái thật kỹ trước khi cho vào chuồng sinh.
  • Nái phải được giảm khẩu phần (khoảng 50%) gồm: Chất bột đường, chất đạm, tăng cường rau xanh trước ngày đẻ.
  • Bấm răng nanh cho heo con khi mới sinh.
  • Kiểm tra và thu nhặt hết số nhau thai, không để cho heo mẹ ăn vì sẽ sinh ra chứng sốt sữa.
  1. Điều trị:
  • Dạng tiêm nhẹ một liều OXYTOCIN – INJ để kích thích tiết sữa 2 lần, trước và sau khi heo đẻ.
  • Dạng tiêm AMOXY 15%: 1ml/15kg thể trọng, chích bắp tay 1 lần/2 ngày, 5 ngày liên tiếp
  • Dạng tiêm CYTASAL: 1ml/15-20kg trọng lượng chích bắp thịt 1 lần/ngày, 3 ngày liên tiếp.
  • Cho uống GLUCO-K-C: 30g/1 lít nước. cho uống 2 lần/ngày
  • Dùng nước ấm chườm ở đầu vú viêm để giảm sưng, nóng, đỏ, đau sau đó dùng tay mát xa nhẹ nhàng 2 hàng vú để vú mềm dần. Nặn vú bị viêm 4 – 5 lần/ngày cho hết sữa để hạn chế việc lây lan từ vú viêm sang vú lành.
  • Phun sát chuồng IODINE tỷ lệ 1:25 với nước, 2 lần/tuần.

BỆNH VIÊM TỬ CUNG (Metritis)

  1. Nguyên nhân:
  • Do nhiều nguyên nhân gây ra:
  • Do gieo tinh, dụng cụ gieo tinh bị nhiễm mầm bệnh, việc sát trùng dụng cụ gieo tinh chưa đảm bảo yêu cầu.
  • Dụng cụ Thụ Tinh Nhân Tạo cứng gây xây xát và tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo và tử cung.
  • Do heo đực bị viêm niệu quản (khi nhảy trực tiếp) sẽ truyền bệnh sang heo cái.
  • Do đỡ đẻ: Heo đẻ khó, thời gian đẻ kéo dài; can thiệp trong quá trình đỡ đẻ làm xây sát niêm mạc tử cung; do sót nhau, nhau bị thối rữa.
  • Do môi trường: vệ sinh chuồng trại chưa tốt, không tiêu độc sát trùng chuồng trại trước khi đưa heo nái vào chuồng đẻ
  1. Triệu chứng:

Bệnh xảy ra sau khi sinh 1 – 2 ngày hoặc 8 – 10 ngày sau khi sinh, có hai dạng chính:

  • Viêm nhờn: xuất hiện sau khi sinh 12 – 24 giờ, dịch nhờn ở tử cung tiết ra lỏng, trong, lợn cợn hoặc đục, mùi hôi tanh. Heo sốt nhẹ.
  • Viêm có mủ: sốt, thân nhiệt tăng từ 40 – 41oC, có thể làm heo nái chết nếu không chữa trị kịp thời. Dịch viêm tích lại trong xoang tử cung. Ở âm hộ có mủ đặc màu vàng đục, sền sệt pha máu, mùi tanh hôi, bệnh thường kéo dài 3 – 4 ngày. Sữa giảm hoặc ngừng hẳn, heo con tiêu chảy, còi cọc chết dần. Heo nái có thể chết ở những con quá yếu hoặc nếu chữa khỏi cũng không nên tiếp tục giữ lại làm giống.
  1. Phòng bệnh:
  • Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ trước và sau khi đẻ
  • Tay người đỡ đẻ và dụng cụ đỡ đẻ phải được sát trùng thật kỹ.
  • Cung cấp đầy đủ nước sạch cho heo nái uống trong giai đoạn mang thai
  • Sau khi đẻ phải thụt rửa tử cung khoảng 5 – 6 lần, trong vòng 3 ngày
  1. Điều trị:
  • Dạng tiêm TERAMYCIN LA: 1ml/15-20kg thể trọng, chich bắp thịt 1 lần/2 ngày, 3 lần liên tiếp.
  • Tiêm kháng sinh Amoxy 15%: 1ml/15kg trọng lượng, chích bắp thịt 1 lần/ngày, 5 ngày liên tiếp.
  • Hạ sốt: PARA-SONE 10g/40kg thể trọng, dạng uống cho uống 2 lần/ngày.
  • Cho uống GLUCO-K-C 30g/1 lít nước, 2 lần/ngày.
  • Dùng IODINE 10ml/100ml với nước thục tử cung 1 lần/ngày, 3 ngày liền. Có thể pha nước muối (1 muỗng cà phê pha 2 lít nước đun sôi để nguội) hoặc thuốc tím 0,70/00, để thụt rửa tử cung, ngày 2 – 3 lần, liên tục trong 3 ngày.
  • Tiêm OXYTOCINEINJ 1 liều sau đẻ, để tử cung co bóp tống sản dịch ra, đồng thời kích thích tạo sữa.

BỆNH-HEO-NÁI-TRƯỚC-VÀ-SAU-SINH. - ACHAUPHARM

BỆNH MẤT SỮA:

  1. Nguyên nhân:
  • Do hậu quả của bệnh viêm tử cung và viêm vú.
  • Rối loạn kích thích tố; chế độ dinh dưỡng không phù hợp
  1. Triệu chứng:

Thường xảy ra từ 1 – 3 ngày sau khi sinh hoặc bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con.

  • Vú không căng sữa, vắt không thấy sữa chảy ra, vú teo nhỏ dần sau đó mất sữa hoàn toàn.
  • Khi bú heo con kêu nhiều và chạy qua, chạy lại. Heo con thường bị tiêu chảy, còi cọc tỷ lệ chết cao.
  1. Điều trị:
  • Cho uống GLUCO kết hợp với PARA-SONE
  • Tiêm OXYTOCINE ngay trước và sau khi sinh.
  • Tiêm TERRAMYCIN LA: 1ml/20kg thể trọng, chích bắp 1 lần thịt 1 lần/2 ngày, 3 lần liên tiếp. Giảm tiết PROLACTIN » GÂY MẤT SỮA#Viemvu #Viemtucung #Heobenh #Achaupharm #ThuocthuyAChauLIKE TRANG FANPAGE ĐỂ CẬP NHẬT NHIỀU THÔNG TIN VÔ CÙNG QUAN TRỌNG TRONG CHĂN NUÔI THEO TỪNG NGÀY NHA. ᴥᴥ

VI KHUẨN GÂY BỆNH HOẠI TỬ CƠ VÀ GAN TỤY Ở TÔM

Nghiên cứu đã kết luận rằng vi khuẩn P. damselae: “KPD là tác nhân gây ra bệnh myonecrosis và hepatopancreatic necrosis, tiêu biểu cho mối đe dọa ở các trại sản xuất tôm giống ở Ấn Độ

BỆNH VỀ TÔM - ACHAUPHARM

Tóm tắt của một nghiên cứu được đăng trên Aquaculture International cho biết, đây là báo cáo đầu tiên về bệnh Hoại tử cơ (Bacterial myonecrosis) và Hoại tử gan tụy (Hepatopancreatic necrosis) ở tôm thẻ Chân trắng bố mẹ (Litopenaeus vannamei) do vi khuẩn gây ra.

Trong 400 cá thể được kiểm tra tại các trại sản xuất tôm giống ở Ấn Độ, 34 cá thể có biểu hiện bệnh hoại tử cơ myonecrosis và bệnh hoại tử gan tụy hepatopancreatic necrosis, những tình trạng đã được báo cáo trước đó là do bị nhiễm vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng và virus. Những dấu hiệu bên ngoài của nhiễm bệnh bao gồm bơi thụ động, biếng ăn, cơ bụng trở nên đục với sự đổi màu trắng rộng khắp của các phần bụng xa và phần phụ sau.

Kiểm tra giải phẩu bằng mắt thường cho thấy gan tụy bị teo, dạ dày và ruột giữa rỗng. Các nghiên cứu mô bệnh học cho thấy các tổn thương cơ trở thành đỏ gồm hoại tử đông và hoại tử nước của các sợi cơ vân, thường bị phù.

Gan tụy có những triệu chứng hoại tử như khoang bị rối loạn cấu trúc và các tế bào biểu mô hình ống phân tán rải rác trên các tế bào biểu mô cơ bị chết hoại. Phiến mang ở tôm nhiễm bệnh bị rối loạn cấu trúc, những sợi nhỏ bị chết hoại thấm qua do hồng cầu bị viêm.

Phân tích RT-PCR sử dụng đoạn mồi theo khuyến cáo của OIE và thiết đặt thêm các đoạn mồi đã được sử dụng trong những nghiên cứu trước đó cho thấy không có virus IMN cũng như những mầm bệnh mới nổi khác như MrNV, PvNV, WSSV, IHHNV, TSV, YHV, AHPND và EHP.

Căn cứ vào những kết quả âm tính trên, các xét nghiệm vi sinh đã được tiến hành. Khuẩn lạc bắt màu vàng chiếm ưu thế đã được phân lập trên thạch TCBS và được định danh là Photobacterium damselae subsp. damselae KPD. Gây nhiễm bằng phương pháp tiêm vi khuẩn P. damselae KPD đã chứng minh đây là mầm bệnh đã nhiễm vào L. vannamei bố mẹ.

  • Cách phòng, trị bệnh
  • Tẩy dọn ao nuôi sạch sẽ, nạo vét bùn và phơi đáy ao trước khi đưa vao ương nuôi.
  • Mật độ thả ương nuôi không nên quá dày để đảm bảo môi trường đủ oxy.
  • Dùng máy sục khí kịp thời bổ sung cho ao nuôi.
  • Kết hợp với APC- YUCCA với liều 500g/1000m3 nước. APC - TÔM

#Achaupharm #APC-YUCCA #Benhotom #Chantrangbome #Hoattuco #Hoattugan

#BACTERIALMYONECROSIS #HEPATOPANCREATICNECROSIS

LIKE TRANG FANPAGE ĐỂ CẬP NHẬT NHIỀU THÔNG TIN VÔ BỔ ÍCH TRONG CHĂN NUÔI THEO TỪNG NGÀY NHA. ᴥᴥ

KIỂM TRA THÂN NHIỆT – VIỆC LÀM CẦN THIẾT CHO CÁC SEN


Khi vật nuôi của bạn có 1 số dấu hiệu bất thường thì bạn cần phải tiến hành kiểm tra thân nhiệt ngay để kịp thời chữa trị,.
Như chúng ta đã biết, chó mèo thường không hay biết nói và khi bị những bệnh nhẹ thì chúng vẫn sinh hoạt bình thường khiến ta không thể phát hiện ra. Chính vì vậy mà bệnh tình của chúng thường có những dấu hiệu đặc trưng thì ta mới biết như ho, khạc, mắt ghèn rỉ hoặc đi kiết, phân tanh, bỏ ăn… Lúc này bệnh đã tiến triển đến 1 giai đoạn nhất định và cần phải tiến hành điều trị.
Các cụ ta có câu “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Bởi thế mà khi đã xác định nuôi 1 bạn Pet bé bỏng nào, bạn cũng nên thường xuyên chăm sóc chúng ngoài việc tắm giặt, cho ăn uống, vs thì cũng nên để ý tới kiểm tra sức khỏe, nhất là khi trời lạnh hoặc thời tiết chuyển mùa.
Có rất nhiều cách để đo thân nhiệt. Cách đơn giản là việc quan sát bằng mắt thường hàng ngày đó là quan sát gương mũi và trạng thái của da lông:
– Con vật bình thường: gương mũi ẩm đều, đen bóng. Gương mũi khô
– Con vật sốt: Gương mũi khô, có giọt trên gương mũi, ẩm không đều: độ ẩm thấp. Lông con vật xù và da khô.
– Cảm nhận qua tai, mũi và đầu không được xem là một phương pháp đáng tin cậy, bạn phải xác định nhiệt độ thực sự bên trong của con chó để chỉ ra một cách chắc chắn.
Kiểm tra nhiệt độ bằng cách nào? Kiểm tra nhiệt độ được thực hiện bằng cách sử dụng một nhiệt kế đo miệng hoặc trực tràng, cũng có thể dùng nhiệt kế điện tử hoặc nhiệt kế thủy ngân. Nhiệt kế tai cũng có thể được sử dụng ở chó.Đây là những dụng cụ cần thiết để đo nhiệt độ một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác.

a. Hướng dẫn đo nhiệt độ ở trực tràng

     Một số con có thể cho bạn thực hiện đo nhiệt độ một cách dễ dàng, nhưng một số khác thường không hợp tác khi bạn thực hiện. Vì vậy, để thao tác đo thực hiện được thuận lợi, bạn cần có một người khác (tốt nhất là chủ của con chó đó) giữ con chó khi bạn tiến hành. Cụ thể như sau:
Nếu sử dụng nhiệt kế thủy ngân, hay nhớ vảy cho cột thủy ngân xuống dưới vạch 35 độ C. Sau đó bôi trơn nhiệt kế bằng vaselin hoặc chất bôi trơn tan trong nước. Người trợ giúp của bạn giữ phần đầu và phần trước con chó bằng cách ôm chặt nó. Nhấc đuôi và đưa nhiệt kế từ từ và cẩn thận vào trực tràng. Đưa nhiệt kế sâu khoảng 2 – 3 và giữ trong hai – ba phút nếu dùng nhiệt kế thủy ngân hoặc cho đến khi tiếng bíp nếu dùng nhiệt điện tử. Rút nhiệt kế ra khỏi trực tràng và đọc kế quả.

          b. Hướng dẫn đo nhiệt độ ở tai

Nhiệt độ tai bình thường ở chó là từ 100,0 – 103,0 độ F (37,8 độ và 39,4 độ C). Các nhiệt kế tai hoạt động bằng cách đo sóng nhiệt hồng ngoại đến từ các khu vực trống tai. Trống tai được coi là một chỉ số tốt của nhiệt độ cơ thể cũng như các biện pháp đo nhiệt độ máu não. Điều quan trọng là đặt nhiệt kế sâu vào trong ống tai nằm ngang để có thể được đọc chính xác. Một nhiệt kế tai như Pet-Temp® được thiết kế dùng cho chó và mèo với một cánh tay dài giúp hoạt động tốt hơn với cấu tạo của ống tai, nó cho phép thăm dò sâu vào trong ống tai. Trong vài lần đầu tiên sử dụng, bạn đo cả ở tai và trực tràng rồi so sánh. Các kết quả gần giống nhau nếu bạn thao tác đúng kỹ thuật.

c. Đọc kết quả:

        Lấy nhiệt độ của con chó ở hai thời điểm khác nhau trong một ngày rồi lấy trung bình, kết quả có thể khác nhau, tùy thuộc vào sự trao đổi chất của con vật hoặc các loại bệnh gây ra cơn sốt.
Thân nhiệt của chó và mèo trong trạng thái sinh lý bình thường:
Chó: 37,5 – 39,0 độ C
Mèo: 38,0 – 39,5 độ C.
Nếu con chó của bạn có nhiệt độ cơ thể dưới 99 độ và trên 104 độ F (khoảng < 37 và trên 40 độ C , hãy gọi bác sĩ thú y hoặc cơ sở cấp cứu địa phương ngay lập tức.
Thân nhiệt cao: Nếu thân nhiệt cao có thể có nghĩa là con chó của bạn có thể bị nhiễm trùng hoặc bệnh tật liên quan đến nhiệt. Các triệu chứng khi sốt:
Khi sốt con vật thường chậm chạp, giảm ăn hoặc bỏ ăn.
Mất nước là phổ biến, nhất là khi con vật không chịu uống nước: một số triệu chứng khác bao gồm: da nóng, gương mũi khô, niêm mạc miệng và mũi nhợt nhạt, sờ gốc tai nóng, thường nằm chỗ tối.
Hạ thân nhiệt: Nếu con chó của bạn bị giảm thân nhiệt sẽ hiển thị một vài trong số các triệu chứng sau đây:
– Run rẩy
– Có mầu xanh ở nướu
– Thở hổn hển
– Choáng ngất
– Co giật, động kinh
Các triệu chứng khác:
Sốt hạ thân nhiệt có thể được gây ra bởi các nguyên nhân như:Hạ đường huyết, nhiễm trùng, sốc nhiệt, ngộ độc
Các nguyên nhân này có thể gây ra một số triệu chứng như: Ói mửa, tạo bọt ở miệng, chảy nhiều nước dãi, tiêu chảy, có máu trong chất nôn và phân.
Việc đo nhiệt độ và kiểm tra thường xuyên là rất quan trọng. Nếu bạn có thời gian, hãy kiểm tra định kỳ 3 ngày 1 lần và tăng tần suất khi thời tiết thay đổi nhé.

 

#Nguồn: Pet & Sen
#Achaupharm – #ThuocThuYAChau #Chomeosot #Pet
THEO DÕI WEBSITE ACHAUPHARM NHIỀU HƠN ĐỂ CẬP NHẬT NHIỀU THÔNG TIN VÔ CÙNG THÚ VỊ CHO VẬT NUÔI MÌNH NHA. ᴥᴥ


HOTLINE: 0292 3913347