BỆNH TRÊN GIA SÚC MÙA MƯA (P1)

       Chúng ta hãy cùng điểm lại những bài viết về chủ đề bảo vệ vật nuôi mùa mưa nhé!

  • BẢO VỆ GIA CẦM MÙA MƯA (P1)
  • PHÒNG BỆNH VẬT NUÔI TRONG MÙA MƯA BÃO (P2)

    Mùa mưa, thời tiết ẩm ướt, tác nhân gây bệnh trên gia súc gia cầm có điều kiện sinh sôi và phát triển. Do đó, hộ chăn nuôi cần biết những biện pháp kiểm soát dịch bệnh trên gia súc, để đảm bảo tốt sức khỏe đàn vật nuôi.

     Tiêu chảy

    Nguyên nhân:

    – Bệnh thường xảy ra vào mùa mưa ẩm làm bãi chăn, đồng cỏ, chuồng trại bị ô nhiễm tạo điều kiện cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút hay ký sinh trùng phát triển bám vào thức ăn và theo nguồn nước xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh.

    – Do gia súc ăn thức ăn dính bẩn, ôi thiu, thức ăn quá nhiều đạm thay đổi thức ăn đột ngột dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây ỉa chảy.

    – Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng gặp nhiều ở gia súc non dưới 6 tháng tuổi do mẫn cảm với mầm bệnh và thay đổi đột ngột nhiệt độ môi trường chăn nuôi.

    Triệu chứng:

    – Gia súc ăn ít hoặc bỏ ăn, không nhai lại, uống nhiều nước, sau đó ỉa lỏng, ban đầu phân chỉ là dịch màu xám xanh, xám vàng có mùi tanh, gia súc bệnh bị mất nước nhanh, da nhăn nheo.

    – Trường hợp bệnh do gia súc bị ký sinh trùng làm tổn thương thành ruột gây xuất huyết và nhiễm khuẩn kế phát, gia súc đi ngoài phân nhày có lẫn máu và niêm mạc.

    Thương hàn

    Triệu chứng 

    Thời gian nung bệnh từ 3- 5 ngày, con vật kém ăn, mệt nhọc, sốt cao 40- 41oC kèm theo cơn run rẩy như hiện tượng sốt rét, chảy nước mắt, niêm mạc mắt đỏ sẫm, mũi khô. Gia súc bỏ nhai lại, nằm một chỗ, bị táo bón trong thời gian sốt, sau đó tiêu chảy dữ dội, lúc đầu phân sền sệt, mùi tanh màu vàng xám.

    Sau vài ngày súc vật ỉa vọt cần câu, có lẫn niêm mạc ruột lầy nhầy, đôi khi tróc niêm mạc từng mảng có lẫn máu màu đỏ sẫm. Trong thời gian bệnh số lần tiêu chảy có thể từ 5- 7 lần/ngày, con vật mất nước, mắt trũng sâu, niêm mạc nhợt nhạt, toàn thân gầy rộc. Bệnh tiến triển trong thời gian 6- 10 ngày, cuối cùng con vật chết trong trạng thái kiệt sức.

    Bệnh tích

     Các hạch lâm ba sưng to, xuất huyết. Vách túi mật viêm dày lên, gan sưng to. Ruột non có những vết xuất huyết chạy dài theo chiều dọc, càng gần ruột già thì càng thấy rõ, niêm mạc ruột tróc ra làm thành ruột bị mỏng và chảy máu.

    Ruột già bị xuất huyết và tróc niêm mạc nhiều hơn. Đặc biệt van hồi manh tràng và xung quanh có những vết loét bằng hạt đậu.

    Tai xanh

     Triệu chứng

    Lâm sàng biểu hiện cũng khác nhau, theo ước tính: cứ 3 đàn heo lần đầu tiếp xúc với virus thì có một đàn không biểu hiện triệu chứng, 1 đàn biểu hiện triệu chứng bình thường, 1 đàn biểu hiện triệu chứng ở mức độ nặng. Có những đàn có huyết thanh dương tính với bệnh tai xanh (PRRS) nhưng lại không  biểu hiện triệu chứng lâm sàng.

     Heo biểu hiện ảnh về sinh sản như:

            * Bệnh thường gây ra sảy thai trên heo nái mang thai ở tuần gần cuối của giai đoạn mang thai (tức là khoảng 105 – 110 ngày mang thai).

            * Bệnh có thể gây ra hiện tượng thai chết lưu, làm kéo dài thời gian mang thai lên khoảng 120 ngày. Đẻ ra thai chết khô có màu nâu đặc trưng, hoặc đẻ non, heo con yếu, heo con thở thể bụng.

            * Tăng tỷ lệ lên giống lại, chậm độc dục trở lại sau khi cai sữa, động dục giả. 

    Ngoài ra, heo còn có các biểu hiện khác trên nái và hậu bị:

            * Biếng ăn, chán ăn, ủ rũ (10-15% đàn).

            * Sốt 40 – 41ºC

            * Viêm phổi, gây ho. Cũng có thể có hiện tượng tiêu chảy ở heo.

            * Trên da xuất hiện các mảng, nốt màu đỏ/xanh, đặc biệt là vùng tai và âm hộ.

            * Phần dưới da và các chi bị phù nề.

      Trên heo đực giống, không có biểu hiện rõ ràng, chỉ biểu hiện giống như heo bị cúm.

    Tụ huyết trùng

    Nguyên nhân 

    Bệnh do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra, nguồn lây bệnh từ thức ăn, nước uống hay từ chất thải của động vật ốm sang động vật khỏe.

    Bênh cũng có thể phát sinh do vi khuẩn có sẵn trong đường tiêu hóa hoặc hô hấp của gia súc khi thời tiết thay đổi đột ngột, gia súc ốm yếu giảm sức đề kháng tạo điều kiện cho vi khuẩn Tụ huyết trùng phát triển và gây bệnh.

    Ở nước ta bệnh xảy ra rải rác quanh năm và ở tất cả các vùng, nhưng phát mạnh nhất vào mùa mưa lũ do vi khuẩn lây lan theo nước và bám vào thức ăn.

    Triệu chứng

    Bệnh thường ở thể cấp tính đối với trâu bò, thời gian ủ bệnh chỉ 1-3 ngày, con vật có biểu hiện như sau:

     – Không nhai lại, mệt nhọc, sốt cao đột ngột 40- 42o C; nước mắt, mũi chảy liên tục; niêm mạc mắt, mồm, mũi, tổ chức dưới da có tụ huyết đỏ sẫm; tối xám.

    – Hầu sưng to, gia súc phải lè lưỡi ra để thở, động tác thở rất mạnh, thường gọi là “bệnh trâu bò hai lưỡi”, gia súc đi lại khó khăn do sưng thùy hạch lâm ba vai, đùi.

    – Một số gia súc bị thể đường ruột thì xuất hiện các triệu chứng ỉa chảy dữ dội, phân lẫn máu và tế bào ruột bong tróc.

    – Lúc gần chết, trâu bò bệnh nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó, xuất huyết ở các niêm mạc mắt, mũi. Diễn biến bệnh trong 3 ngày-5 ngày, chết đến 90-100%, nếu nhiễm trùng máu chết nhanh hơn trong 1-1,5 ngày.

    Nếu bệnh ác tính hay còn gọi là thể quá cấp tính thì đột nhiên bò sốt cao đến 42oC, hung dữ, điên cuồng, đập đầu vào thành chuồng, chết nhanh trong 24 giờ.

    Gia súc bệnh không chết sẽ chuyển ra mãn tính, ruột viêm lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp, viêm phế quản và phổi mãn tính. Trong vài tuần, gia súc có thể khỏi bệnh nhưng thường gầy rạc.

     Bệnh phổi

    Triệu chứng
    + Thời kỳ ủ bệnh từ 3 – 7 ngày.
    + Sốt giai đoạn đầu từ 40 – 410C; sau đó sốt giảm dần.
    + Ho nặng dần, ho nhiều vào buổi sáng, đêm khuya hoặc sau khi vận động, ho có chảy dịch mũi và miệng.
    +Thở nhanh và khó, khi thở phải vươn cổ và há mồm.
    + Ăn kém, nhu động dạ cỏ giảm.
    + Bò gầy dần, xơ xác và chết sau 3 – 6 tháng do suy hô hấp.
    + Sản lượng sữa giảm. Bê con bị bệnh nằm một chỗ, ngóc cổ thở mạnh, nhanh và khó khăn.
    + Nếu bệnh nặng khi có nhiễm tụ cầu có hiện tượng mủ chảy ra từ mũi.
    + Tiêu chảy: Nhiều trường hợp bê non có ỉa chảy kế phát, do vi khuẩn gây bệnh cùng dớt dãi và mủ được nuốt xuống bộ máy tiêu hoá, gây viêm ruột cata. Bê ỉa chảy nặng và chết nhanh trong khoảng 5 – 7 ngày.
    Bệnh tích
    + Niêm mạc mũi và khí quản viêm xung huyết, có dịch nhầy.
    + Phổi bị tăng sinh, nhục hoá và tụ huyết.
    + Màng phổi dính vào xoang ngực.
    + Hạch lâm ba, hầu và phổi tụ huyết, sưng phù thũng.
    + Trường hợp viêm phổi do vi khuẩn Haemophilus somnus khi mổ khám não thì màng não mờ đục xuất huyết lấm tấm, tiểu não xuất huyết và gây tổn thương não.

    Trong đó tiêm phòng là khâu quan trọng nhất để phòng chống dịch bệnh. Thời gian qua, các hộ nuôi chủ động tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin như tai xanh, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, dịch tả, đóng dấu son… cho đàn vật nuôi, đã kiểm soát khá tốt hiệu quả chăn nuôi của mình. Như vậy, trên cơ sở ngăn chặn mầm bệnh lây lan bằng các khâu chăm sóc vệ sinh thú y, người chăn nuôi cũng cần định kỳ tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin cho đàn vật nuôi theo quy định, cụ thể quy trình như sau:

    – Đối với bệnh tai xanh: tiêm lần đầu vào lúc heo 14 ngày tuổi và tiêm nhắc lại khi heo lớn hơn 28 ngày tuổi, thực hiện định kỳ 4 tháng nhắc lại 1 lần.

    – Đối với bệnh dịch tả: tiêm vào lúc heo khoảng 30 – 45 ngày tuổi.

    – Đối với bệnh lở mồm long móng: tiêm lúc vật nuôi khoảng 55 – 60 ngày tuổi, có thể tiêm sớm hơn nhưng vật nuôi phải lớn hơn 25 ngày tuổi, tùy theo tình hình diễn biến và áp lực dịch bệnh.

    –  Đối với bệnh tụ huyết trùng: tiêm lúc vật nuôi khoảng 55 đến 60 ngày tuổi.

Trở lên