Achaupharm

To be a winner, all you need to give is all you have ;)

Category Archive : Thư viện Chăn nuôi

CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM TRONG MÙA MƯA LŨ

CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM TRONG MÙA MƯA LŨ

Vào mùa mưa lũ, thời tiết có những thay đổi phức tạp, diễn biến khó lường, thường có bão lốc, lũ lụt lớn xảy ra, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, làm cho dịch bệnh ở gia súc, gia cầm có nguy cơ bùng phát và lan ra diện rộng.

Người chăn nuôi cần chủ động phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm trong mùa mưa lũ.

  1. Vì sao vào mùa mưa thường xảy ra dịch bệnh ở gia súc, gia cầm?

Vào mùa mưa, mầm bệnh sẽ theo nước lũ sẽ lan đi khắp nơi. Mưa lũ càng lớn và quy mô càng rộng thì sự lan truyền mầm bệnh càng tăng, mức độ nguy hiểm càng lớn. Mặt khác, trong khi có sự di chuyển đàn gia súc, gia cầm tránh lũ sẽ đem theo các mầm bệnh từ nơi này tới nơi khác. Các khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh tẩy uế chuồng trại cũng không được thực hiện tốt làm suy giảm đáng kể sức chống chịu bệnh tật ở vật nuôi, khiến cho các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, dịch tả, thương hàn… dễ lây lan và bùng phát.

BỆNH TRÊN GIA SÚC MÙA MƯA

Biện pháp phòng bệnh cho gia súc, gia cầm trong mùa mưa bão

  1. Vào mùa mưa lũ, những bệnh nào ở gia súc, gia cầm thường xảy ra?

Đó là bệnh dịch tả, lở mồm long móng ở trâu, bò, dê; bệnh tiêu chảy ở lợn con; bệnh Gumboro, tụ huyết trùng, cầu trùng… ở gia cầm, thủy cầm.

BẢO VỆ GIA CẦM MÙA MƯA

Phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi mùa mưa bão - Thông tin tuyên ...

  1. Vì sao phải chủ động phòng chống dịch bệnh ở vật nuôi?

Chủ động có nghĩa là áp dụng các biện pháp khi dịch chưa kịp xảy ra, chủ động tấn công tiêu diệt, ngăn chặn mầm bệnh ở môi trường đồng thời với việc áp dụng các biện pháp nâng cao sức khỏe vật nuôi, nâng cao sức chống chịu bệnh tật. Khi mầm bệnh còn ở ngoài môi trường, chúng rất dễ bị tiêu diệt bởi các tác động ngoại cảnh được thực hiện qua biện pháp vệ sinh tẩy uế môi sinh. Một khi chúng xâm nhập vào cơ thể vật nuôi và gây thành bệnh thì chi phí chữa trị rất tốn kém mà hiệu quả thường không cao.

#Phongchongdichbenhvatnuoi #Visao #Mualu

#Tuhuyettrung #Dichta #Lomomlongmong #Thuonghan

#Phongchongdichbenhgiasucgiacam #Mualu #Achaupharm #ThuocthuyAChau

  1. Chủ động phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm vào mùa mưa lũ như thế nào cho hiệu quả?
  • Thứ nhất: Đối với những vùng có nguy cơ và thường hay ngập lụt, cần chủ động tôn cao nền chuồng hoặc làm sàn cao cho chúng ở; làm rèm che chắn mưa tạt gió lùa để gia súc, gia cầm được ở sạch.
  • Thứ hai: Đảm bảo luôn luôn có nước uống sạch cho gia súc, gia cầm. Cần có đủ thùng đựng nước. Nước cần được đánh phèn cho trong và khử trùng cho gia súc, gia cầm.
  • Thứ ba: Vật nuôi cần được chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo, không bị bỏ đói hoặc ăn những loại thức ăn tận dụng, thiếu dinh dưỡng, bị mốc, kém chất lượng. Nâng cao sức chống chịu cho vật nuôi là chủ động phòng ngừa rất có hiệu quả sự nhiễm mầm bệnh truyền nhiễm ở chúng.
  • Thứ tư: Thực hiện vệ sinh thật tốt, thường xuyên quét dọn chuồng trại để vật nuôi được ở sạch. Phun tẩy uế chuồng trại và khu vực xung quanh. Dùng IODINE hoặc PROTECT để sát trùng chuồng trại định kì( phòng bệnh thì 1 tháng 1 lần, trong khi có dịch thì 1 tuần 1 lần)
  • Khi hết mùa mưa lũ thì dọn vệ sinh, phun thuốc sát trùng, tiêu độc, diệt mầm bệnh truyền nhiễm đến đó.

* Xử lý xác vật nuôi: Phương pháp hiệu quả nhất là đốt xác vật chết, phun thuốc diệt côn trùng hoặc thuốc sát trùng hoặc tưới dầu hỏa lên xác vật chết để chống các loài ăn thịt và côn trùng xâm nhập, đợi khi nước rút thì đem chôn lấp. #xulyxacvatnuoi

  • Thứ năm: Tổ chức tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch các vắc-xin phòng chống bệnh ở vật nuôi:
  • Đối với trâu, bò, dê: Tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng.
  • Đối với lợn: Tiêm phòng dịch tả, tụ huyết trùng phó thương hàn và lở mồm long móng.
  • Đối với gia cầm: Cần tiêm phòng dịch tả gà, vịt…
  • Thứ sáu: Khuyến cáo hạn chế sử dụng kháng sinh, các chất kích thích tăng trọng… để có thực phẩm an toàn cho sức khỏe cộng đồng.

Tóm lại, phòng chống bệnh cho gia súc, gia cầm mùa mưa lũ là công việc quan trọng cần được tổ chức, giám sát thực hiện, huy động sức mạnh của tất cả cộng đồng từ các cấp quản lý Nhà nước đến người chăn nuôi trực tiếp. Làm được như vậy tức là chủ động phòng chống có hiệu quả dịch bệnh ở gia súc, gia cầm.

  • Bảo vệ đàn gia súc, gia cầm mùa lũ

Mùa lũ đến thường gây dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, làm thiệt hại lớn đến ngành chăn nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long. Để chủ động phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm có hiệu quả, bà con cần lưu ý những điểm sau:

  • Đối với những vùng có nguy cơ ngập lụt, cần chủ động tôn cao nền chuồng, làm sàn kê cao và dự trữ thức ăn đầy đủ, làm rèm che chắn, tránh mưa tạt, gió lùa, đồng thời tiêm phòng đầy đủ các loại vaccin phòng bệnh cho gia súc như bệnh tả, tụ huyết trùng, lở mồm long móng…
  • Đối với những vùng bị ngập lụt, bằng mọi cách phải di dời gia súc, gia cầm lên những vùng đất cao, làm chuồng che chắn cẩn thận, dự trữ thức ăn đầy đủ và bảo quản thức ăn khô ráo, không bị ẩm mốc, nhất là không cho gia súc, gia cầm uống nước mưa đọng đã nhiễm bẩn, cần cho uống nước đã lắng phèn hoặc khử trùng.
  • Ngoài ra, công tác phòng bệnh và chăm sóc gia súc, gia cầm trước, trong và sau khi lũ rút là rất cần thiết. Để phòng dịch bệnh cho gia súc, gia cầm đạt hiệu quả, trước hết phải làm tốt công tác chăm sóc, vệ sinh chuồng trại, vệ sinh môi trường và theo dõi nắm bắt thông tin về tình hình dịch bệnh để chủ động phòng chống khi dịch bệnh có thể xảy ra, gây thiệt hại cho đàn gia súc gia cầm của hộ gia đình.
  • Công tác tiêm phòng:
  • Đối với trâu, bò: Tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng, nhất là những vùng tiếp giáp biên giới Campuchia để tạo vành đai an toàn dịch bệnh.
  • Đối với heo: Tiêm phòng dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn và lở mồm long móng.
  • Đối với gia cầm: Cần tiêm phòng dịch tả gà, vịt…

PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH Ở LỢN NÁI TRƯỚC VÀ SAU KHI SANH

Chăn nuôi Heo nái từ trước đến nay luôn là chủ đề được rất nhiều người quan tâm và chú trọng. Thành công của chăn nuôi heo nái quyết định rất lớn tới năng suất cũng như lợi nhuận của mỗi cơ sở chăn nuôi và nó cũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau từ con giống, kỹ thuật, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cho đến phòng và quản lý mầm bệnh… Dưới đây là một số bệnh thường gặp ở lợn nái trước và sau sinh.

BỆNH VIÊM VÚ (Mastitis)

  1. Nguyên nhân:
  • Do kế phát bệnh viêm tử cung, sót nhau sau khi sinh.
  • Do nhiễm trùng: từ môi trường vào bầu vú gây viêm; do răng heo con làm xây xát núm vú và gây nhiễm trùng.
  • Sau khi sinh hàm lượng canxi huyết mẹ quá thấp dẫn đến nái bị sốt sữa dẫn đến viêm vú.
  • Chuồng trại không đảm bảo vệ sinh tạo điều kiện cho vi trùng sinh sôi phát triển, gây bệnh.
  1. Triệu chứng:

Heo sau khi sinh 2 ngày xuất hiện những vú sưng đỏ, thường thấy đối xứng giữa 2 hàng vú, sờ vào có cảm giác nóng, ấn vào vú heo mẹ có biểu hiện đau. Nếu viêm nặng thì heo bỏ ăn, không muốn cho con bú, sốt 40,5 – 42°C, vắt sữa ở những vú viêm thấy vón cục. Vú viêm lây sang các vú khác rất nhanh. Nếu điều trị không kịp thời, heo sẽ bị mất sữa.

Trường hợp hàm lượng canxi huyết thấp sau khi sinh dẫn đến nái bị sốt sữa thì tất cả các vú đều bị viêm, sưng đỏ.

  1. Phòng bệnh:
  • Trước khi heo nái sinh phải sát trùng kỹ chuồng trại. Dùng IODINE pha loãng với nước tỷ lệ 1:25, phun thật kỹ vào nền, vách chuồng để tiêu diệt vi trùng 2 lần/tuần.
  • Tắm cho heo nái thật kỹ trước khi cho vào chuồng sinh.
  • Nái phải được giảm khẩu phần (khoảng 50%) gồm: Chất bột đường, chất đạm, tăng cường rau xanh trước ngày đẻ.
  • Bấm răng nanh cho heo con khi mới sinh.
  • Kiểm tra và thu nhặt hết số nhau thai, không để cho heo mẹ ăn vì sẽ sinh ra chứng sốt sữa.
  1. Điều trị:
  • Dạng tiêm nhẹ một liều OXYTOCIN – INJ để kích thích tiết sữa 2 lần, trước và sau khi heo đẻ.
  • Dạng tiêm AMOXY 15%: 1ml/15kg thể trọng, chích bắp tay 1 lần/2 ngày, 5 ngày liên tiếp
  • Dạng tiêm CYTASAL: 1ml/15-20kg trọng lượng chích bắp thịt 1 lần/ngày, 3 ngày liên tiếp.
  • Cho uống GLUCO-K-C: 30g/1 lít nước. cho uống 2 lần/ngày
  • Dùng nước ấm chườm ở đầu vú viêm để giảm sưng, nóng, đỏ, đau sau đó dùng tay mát xa nhẹ nhàng 2 hàng vú để vú mềm dần. Nặn vú bị viêm 4 – 5 lần/ngày cho hết sữa để hạn chế việc lây lan từ vú viêm sang vú lành.
  • Phun sát chuồng IODINE tỷ lệ 1:25 với nước, 2 lần/tuần.

BỆNH VIÊM TỬ CUNG (Metritis)

  1. Nguyên nhân:
  • Do nhiều nguyên nhân gây ra:
  • Do gieo tinh, dụng cụ gieo tinh bị nhiễm mầm bệnh, việc sát trùng dụng cụ gieo tinh chưa đảm bảo yêu cầu.
  • Dụng cụ Thụ Tinh Nhân Tạo cứng gây xây xát và tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo và tử cung.
  • Do heo đực bị viêm niệu quản (khi nhảy trực tiếp) sẽ truyền bệnh sang heo cái.
  • Do đỡ đẻ: Heo đẻ khó, thời gian đẻ kéo dài; can thiệp trong quá trình đỡ đẻ làm xây sát niêm mạc tử cung; do sót nhau, nhau bị thối rữa.
  • Do môi trường: vệ sinh chuồng trại chưa tốt, không tiêu độc sát trùng chuồng trại trước khi đưa heo nái vào chuồng đẻ
  1. Triệu chứng:

Bệnh xảy ra sau khi sinh 1 – 2 ngày hoặc 8 – 10 ngày sau khi sinh, có hai dạng chính:

  • Viêm nhờn: xuất hiện sau khi sinh 12 – 24 giờ, dịch nhờn ở tử cung tiết ra lỏng, trong, lợn cợn hoặc đục, mùi hôi tanh. Heo sốt nhẹ.
  • Viêm có mủ: sốt, thân nhiệt tăng từ 40 – 41oC, có thể làm heo nái chết nếu không chữa trị kịp thời. Dịch viêm tích lại trong xoang tử cung. Ở âm hộ có mủ đặc màu vàng đục, sền sệt pha máu, mùi tanh hôi, bệnh thường kéo dài 3 – 4 ngày. Sữa giảm hoặc ngừng hẳn, heo con tiêu chảy, còi cọc chết dần. Heo nái có thể chết ở những con quá yếu hoặc nếu chữa khỏi cũng không nên tiếp tục giữ lại làm giống.
  1. Phòng bệnh:
  • Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ trước và sau khi đẻ
  • Tay người đỡ đẻ và dụng cụ đỡ đẻ phải được sát trùng thật kỹ.
  • Cung cấp đầy đủ nước sạch cho heo nái uống trong giai đoạn mang thai
  • Sau khi đẻ phải thụt rửa tử cung khoảng 5 – 6 lần, trong vòng 3 ngày
  1. Điều trị:
  • Dạng tiêm TERAMYCIN LA: 1ml/15-20kg thể trọng, chich bắp thịt 1 lần/2 ngày, 3 lần liên tiếp.
  • Tiêm kháng sinh Amoxy 15%: 1ml/15kg trọng lượng, chích bắp thịt 1 lần/ngày, 5 ngày liên tiếp.
  • Hạ sốt: PARA-SONE 10g/40kg thể trọng, dạng uống cho uống 2 lần/ngày.
  • Cho uống GLUCO-K-C 30g/1 lít nước, 2 lần/ngày.
  • Dùng IODINE 10ml/100ml với nước thục tử cung 1 lần/ngày, 3 ngày liền. Có thể pha nước muối (1 muỗng cà phê pha 2 lít nước đun sôi để nguội) hoặc thuốc tím 0,70/00, để thụt rửa tử cung, ngày 2 – 3 lần, liên tục trong 3 ngày.
  • Tiêm OXYTOCINEINJ 1 liều sau đẻ, để tử cung co bóp tống sản dịch ra, đồng thời kích thích tạo sữa.

BỆNH-HEO-NÁI-TRƯỚC-VÀ-SAU-SINH. - ACHAUPHARM

BỆNH MẤT SỮA:

  1. Nguyên nhân:
  • Do hậu quả của bệnh viêm tử cung và viêm vú.
  • Rối loạn kích thích tố; chế độ dinh dưỡng không phù hợp
  1. Triệu chứng:

Thường xảy ra từ 1 – 3 ngày sau khi sinh hoặc bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con.

  • Vú không căng sữa, vắt không thấy sữa chảy ra, vú teo nhỏ dần sau đó mất sữa hoàn toàn.
  • Khi bú heo con kêu nhiều và chạy qua, chạy lại. Heo con thường bị tiêu chảy, còi cọc tỷ lệ chết cao.
  1. Điều trị:
  • Cho uống GLUCO kết hợp với PARA-SONE
  • Tiêm OXYTOCINE ngay trước và sau khi sinh.
  • Tiêm TERRAMYCIN LA: 1ml/20kg thể trọng, chích bắp 1 lần thịt 1 lần/2 ngày, 3 lần liên tiếp. Giảm tiết PROLACTIN » GÂY MẤT SỮA#Viemvu #Viemtucung #Heobenh #Achaupharm #ThuocthuyAChauLIKE TRANG FANPAGE ĐỂ CẬP NHẬT NHIỀU THÔNG TIN VÔ CÙNG QUAN TRỌNG TRONG CHĂN NUÔI THEO TỪNG NGÀY NHA. ᴥᴥ
APC - TÔM

VI KHUẨN GÂY BỆNH HOẠI TỬ CƠ VÀ GAN TỤY Ở TÔM

Nghiên cứu đã kết luận rằng vi khuẩn P. damselae: “KPD là tác nhân gây ra bệnh myonecrosis và hepatopancreatic necrosis, tiêu biểu cho mối đe dọa ở các trại sản xuất tôm giống ở Ấn Độ

BỆNH VỀ TÔM - ACHAUPHARM

Tóm tắt của một nghiên cứu được đăng trên Aquaculture International cho biết, đây là báo cáo đầu tiên về bệnh Hoại tử cơ (Bacterial myonecrosis) và Hoại tử gan tụy (Hepatopancreatic necrosis) ở tôm thẻ Chân trắng bố mẹ (Litopenaeus vannamei) do vi khuẩn gây ra.

Trong 400 cá thể được kiểm tra tại các trại sản xuất tôm giống ở Ấn Độ, 34 cá thể có biểu hiện bệnh hoại tử cơ myonecrosis và bệnh hoại tử gan tụy hepatopancreatic necrosis, những tình trạng đã được báo cáo trước đó là do bị nhiễm vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng và virus. Những dấu hiệu bên ngoài của nhiễm bệnh bao gồm bơi thụ động, biếng ăn, cơ bụng trở nên đục với sự đổi màu trắng rộng khắp của các phần bụng xa và phần phụ sau.

Kiểm tra giải phẩu bằng mắt thường cho thấy gan tụy bị teo, dạ dày và ruột giữa rỗng. Các nghiên cứu mô bệnh học cho thấy các tổn thương cơ trở thành đỏ gồm hoại tử đông và hoại tử nước của các sợi cơ vân, thường bị phù.

Gan tụy có những triệu chứng hoại tử như khoang bị rối loạn cấu trúc và các tế bào biểu mô hình ống phân tán rải rác trên các tế bào biểu mô cơ bị chết hoại. Phiến mang ở tôm nhiễm bệnh bị rối loạn cấu trúc, những sợi nhỏ bị chết hoại thấm qua do hồng cầu bị viêm.

Phân tích RT-PCR sử dụng đoạn mồi theo khuyến cáo của OIE và thiết đặt thêm các đoạn mồi đã được sử dụng trong những nghiên cứu trước đó cho thấy không có virus IMN cũng như những mầm bệnh mới nổi khác như MrNV, PvNV, WSSV, IHHNV, TSV, YHV, AHPND và EHP.

Căn cứ vào những kết quả âm tính trên, các xét nghiệm vi sinh đã được tiến hành. Khuẩn lạc bắt màu vàng chiếm ưu thế đã được phân lập trên thạch TCBS và được định danh là Photobacterium damselae subsp. damselae KPD. Gây nhiễm bằng phương pháp tiêm vi khuẩn P. damselae KPD đã chứng minh đây là mầm bệnh đã nhiễm vào L. vannamei bố mẹ.

  • Cách phòng, trị bệnh
  • Tẩy dọn ao nuôi sạch sẽ, nạo vét bùn và phơi đáy ao trước khi đưa vao ương nuôi.
  • Mật độ thả ương nuôi không nên quá dày để đảm bảo môi trường đủ oxy.
  • Dùng máy sục khí kịp thời bổ sung cho ao nuôi.
  • Kết hợp với APC- YUCCA với liều 500g/1000m3 nước. APC - TÔM

#Achaupharm #APC-YUCCA #Benhotom #Chantrangbome #Hoattuco #Hoattugan

#BACTERIALMYONECROSIS #HEPATOPANCREATICNECROSIS

LIKE TRANG FANPAGE ĐỂ CẬP NHẬT NHIỀU THÔNG TIN VÔ BỔ ÍCH TRONG CHĂN NUÔI THEO TỪNG NGÀY NHA. ᴥᴥ

KIỂM TRA THÂN NHIỆT – VIỆC LÀM CẦN THIẾT CHO CÁC SEN


Khi vật nuôi của bạn có 1 số dấu hiệu bất thường thì bạn cần phải tiến hành kiểm tra thân nhiệt ngay để kịp thời chữa trị,.
Như chúng ta đã biết, chó mèo thường không hay biết nói và khi bị những bệnh nhẹ thì chúng vẫn sinh hoạt bình thường khiến ta không thể phát hiện ra. Chính vì vậy mà bệnh tình của chúng thường có những dấu hiệu đặc trưng thì ta mới biết như ho, khạc, mắt ghèn rỉ hoặc đi kiết, phân tanh, bỏ ăn… Lúc này bệnh đã tiến triển đến 1 giai đoạn nhất định và cần phải tiến hành điều trị.
Các cụ ta có câu “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Bởi thế mà khi đã xác định nuôi 1 bạn Pet bé bỏng nào, bạn cũng nên thường xuyên chăm sóc chúng ngoài việc tắm giặt, cho ăn uống, vs thì cũng nên để ý tới kiểm tra sức khỏe, nhất là khi trời lạnh hoặc thời tiết chuyển mùa.
Có rất nhiều cách để đo thân nhiệt. Cách đơn giản là việc quan sát bằng mắt thường hàng ngày đó là quan sát gương mũi và trạng thái của da lông:
– Con vật bình thường: gương mũi ẩm đều, đen bóng. Gương mũi khô
– Con vật sốt: Gương mũi khô, có giọt trên gương mũi, ẩm không đều: độ ẩm thấp. Lông con vật xù và da khô.
– Cảm nhận qua tai, mũi và đầu không được xem là một phương pháp đáng tin cậy, bạn phải xác định nhiệt độ thực sự bên trong của con chó để chỉ ra một cách chắc chắn.
Kiểm tra nhiệt độ bằng cách nào? Kiểm tra nhiệt độ được thực hiện bằng cách sử dụng một nhiệt kế đo miệng hoặc trực tràng, cũng có thể dùng nhiệt kế điện tử hoặc nhiệt kế thủy ngân. Nhiệt kế tai cũng có thể được sử dụng ở chó.Đây là những dụng cụ cần thiết để đo nhiệt độ một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác.

a. Hướng dẫn đo nhiệt độ ở trực tràng

     Một số con có thể cho bạn thực hiện đo nhiệt độ một cách dễ dàng, nhưng một số khác thường không hợp tác khi bạn thực hiện. Vì vậy, để thao tác đo thực hiện được thuận lợi, bạn cần có một người khác (tốt nhất là chủ của con chó đó) giữ con chó khi bạn tiến hành. Cụ thể như sau:
Nếu sử dụng nhiệt kế thủy ngân, hay nhớ vảy cho cột thủy ngân xuống dưới vạch 35 độ C. Sau đó bôi trơn nhiệt kế bằng vaselin hoặc chất bôi trơn tan trong nước. Người trợ giúp của bạn giữ phần đầu và phần trước con chó bằng cách ôm chặt nó. Nhấc đuôi và đưa nhiệt kế từ từ và cẩn thận vào trực tràng. Đưa nhiệt kế sâu khoảng 2 – 3 và giữ trong hai – ba phút nếu dùng nhiệt kế thủy ngân hoặc cho đến khi tiếng bíp nếu dùng nhiệt điện tử. Rút nhiệt kế ra khỏi trực tràng và đọc kế quả.

          b. Hướng dẫn đo nhiệt độ ở tai

Nhiệt độ tai bình thường ở chó là từ 100,0 – 103,0 độ F (37,8 độ và 39,4 độ C). Các nhiệt kế tai hoạt động bằng cách đo sóng nhiệt hồng ngoại đến từ các khu vực trống tai. Trống tai được coi là một chỉ số tốt của nhiệt độ cơ thể cũng như các biện pháp đo nhiệt độ máu não. Điều quan trọng là đặt nhiệt kế sâu vào trong ống tai nằm ngang để có thể được đọc chính xác. Một nhiệt kế tai như Pet-Temp® được thiết kế dùng cho chó và mèo với một cánh tay dài giúp hoạt động tốt hơn với cấu tạo của ống tai, nó cho phép thăm dò sâu vào trong ống tai. Trong vài lần đầu tiên sử dụng, bạn đo cả ở tai và trực tràng rồi so sánh. Các kết quả gần giống nhau nếu bạn thao tác đúng kỹ thuật.

c. Đọc kết quả:

        Lấy nhiệt độ của con chó ở hai thời điểm khác nhau trong một ngày rồi lấy trung bình, kết quả có thể khác nhau, tùy thuộc vào sự trao đổi chất của con vật hoặc các loại bệnh gây ra cơn sốt.
Thân nhiệt của chó và mèo trong trạng thái sinh lý bình thường:
Chó: 37,5 – 39,0 độ C
Mèo: 38,0 – 39,5 độ C.
Nếu con chó của bạn có nhiệt độ cơ thể dưới 99 độ và trên 104 độ F (khoảng < 37 và trên 40 độ C , hãy gọi bác sĩ thú y hoặc cơ sở cấp cứu địa phương ngay lập tức.
Thân nhiệt cao: Nếu thân nhiệt cao có thể có nghĩa là con chó của bạn có thể bị nhiễm trùng hoặc bệnh tật liên quan đến nhiệt. Các triệu chứng khi sốt:
Khi sốt con vật thường chậm chạp, giảm ăn hoặc bỏ ăn.
Mất nước là phổ biến, nhất là khi con vật không chịu uống nước: một số triệu chứng khác bao gồm: da nóng, gương mũi khô, niêm mạc miệng và mũi nhợt nhạt, sờ gốc tai nóng, thường nằm chỗ tối.
Hạ thân nhiệt: Nếu con chó của bạn bị giảm thân nhiệt sẽ hiển thị một vài trong số các triệu chứng sau đây:
– Run rẩy
– Có mầu xanh ở nướu
– Thở hổn hển
– Choáng ngất
– Co giật, động kinh
Các triệu chứng khác:
Sốt hạ thân nhiệt có thể được gây ra bởi các nguyên nhân như:Hạ đường huyết, nhiễm trùng, sốc nhiệt, ngộ độc
Các nguyên nhân này có thể gây ra một số triệu chứng như: Ói mửa, tạo bọt ở miệng, chảy nhiều nước dãi, tiêu chảy, có máu trong chất nôn và phân.
Việc đo nhiệt độ và kiểm tra thường xuyên là rất quan trọng. Nếu bạn có thời gian, hãy kiểm tra định kỳ 3 ngày 1 lần và tăng tần suất khi thời tiết thay đổi nhé.

 

#Nguồn: Pet & Sen
#Achaupharm – #ThuocThuYAChau #Chomeosot #Pet
THEO DÕI WEBSITE ACHAUPHARM NHIỀU HƠN ĐỂ CẬP NHẬT NHIỀU THÔNG TIN VÔ CÙNG THÚ VỊ CHO VẬT NUÔI MÌNH NHA. ᴥᴥ


HOTLINE: 0292 3493347